Ẩm Thực

Top 10 Món ăn ngon, phổ biến nhất ở Nhật Bản

Top 10 Món ăn ngon, phổ biến nhất ở Nhật Bản

Trong những năm gần đây, Ẩm thực Nhật Bản đã trở nên quen thuộc và được đánh giá cao trên toàn thế giới. Nhiều khách đi du lịch Nhật Bản được nếm thử và cảm thấy thỏa mãn với những con cá sống hay như tôm chiên tẩm bột. Tuy nhiên, có rất ít khách du lịch lần đầu tiên đến với Nhật Bản được thưởng thức và cảm nhận đầy đủ về sự đa dạng và bề ngoài lộng lẫy trong các món ăn nổi tiếng của Nhật Bản đúng như các món ăn truyền thống chính cống. Ăn uống tại Nhật là một trải nghiệm vô cùng thích thú và đáng để nhớ cho chuyến đi du lịch Nhật Bản của mỗi người. Văn hóa Nhật Bản ngoài trà đạo ra chúng ta cần phải nói đến các món ăn của Nhật Bản trong đó cần phải kể đến rất nhiều các món ăn và đặc sản địa phương. Hãy cùng Toplist khám phá nền ẩm thực Nhật Bản qua các món ăn ngon và phổ biến nhất qua bài viết dưới đây nhé

Sushi

Nhắc tới Nhật Bản, ta nhớ ngay đến món sushi truyền thống. Nguyên liệu quan trọng nhất để làm món này là cơm trắng trộn giấm, kết hợp với các loại thức ăn khác như rong biển, trứng rán, các loại hải sản như cá sống, bạch tuộc, mực, tôm, trứng cá hồi hoặc rau củ… vì thế nên có nhiều biến tấu khác nhau của sushi. Tất cả đều có thể dùng kèm với nước tương hoặc mù tạt wasabi cay nồng đặc trưng của xứ sở mặt trời mọc. Từ xưa, người Nhật đã biết cách ủ cá, tôm, hải sản vào nắm cơm để giữ được mùi vị thơm ngon. Khi ủ, cơm thường được trộn với một chút giấm cho chua chua ngọt ngọt. Mà cũng chính vì thế mà cá ủ trong cơm được chuyển hóa thành sushi.

Loại cơm trộn giấm để làm sushi được gọi là sumeshi hoặc sushimeshi. Loại giấm để nấu cơm này không phải giấm thông thường mà là giấm có pha muối, đường, rượu ngọt Mirin, vì thế gọi là giấm hỗn hợp awasesu. Giấm này được chuyên dùng để chế biến sushi, nên còn được gọi là sushisu. Cơm sau khi được nấu xong (nấu không chín hoàn toàn như cơm bình thường) sẽ được cho vào một chậu gỗ gọi là tarai và trộn với giấm. Cơm vừa được trộn vừa được nghệ nhân sushi dùng quạt tay để quạt cho hơi nóng thoát ra ngoài, giúp cho giấm giữ được hương vị. Các loại hải sản dùng để làm sushi gọi là Neta. Neta có thể là cá ngừ, cá hồi, cá chình, cá nóc, cá thu, tôm (nhất là loại tôm mà người Nhật gọi là sakura ebi), mực, bạch tuộc, các loại ốc biển, cua biển… Có thể dùng gạo lứt để làm sushi cho người ăn kiêng.

Sushi
Sushi
Sushi

Onigiri

Onigiri nghĩa là cơm nắm. Ngày nay, món ăn này phổ biến đến nỗi bạn có thể tìm mua ngay trong các cửa hàng tiện lợi của Việt Nam cũng như Nhật Bản. Cơm nắm, đúng như cái tên, được làm chủ yếu từ cơm được nắm chắc lại thành hình tròn hay tam giác, nhân bên trong có thể là cá ngừ, cá hồi hoặc mơ muối, giờ đây xuất hiện thêm các “biến tấu” khác như thanh cua, gà teriyaki, hoặc tôm chiên tempura. Bọc ngoài cơm nắm là một miếng rong biển khô. Đây là món ăn vừa bổ dưỡng, vừa tiện lợi dành cho những người bận rộn không có nhiều thời gian để chuẩn bị bữa ăn. Từ thời kì Kamakura đến đầu thời kì Edo, onigiri được dùng trong bữa ăn nhanh. Điều này có ý nghĩa vì đầu bếp chỉ cần nghĩ làm thế nào để làm đủ onigiri mà không cần lưu tâm đến việc phục vụ. Onigiri lúc bấy giờ chỉ là nắm cơm có rắc muối. Việc thêm nori vào onigiri chỉ trở nên rộng rãi kể từ thời kì Meiji khi nori được trồng và làm thành tấm mỏng phổ biến.

Trước đây người ta cho rằng onigiri không thể được sản xuất với máy móc vì kĩ thuật nắn thành nắm quá khó để máy móc có thể thực hiện được. Vào những năm 1980, máy làm onigiri hình tam giác được chế tạo. Lúc đầu nó đã phải đương đầu với những người hoài nghi nhờ vào việc thay vì cuộn phủ thứ được thêm vào, thứ thêm vào này chỉ cần được đặt vào lỗ trong onigiri và lỗ này được nori che phủ. Thêm vào đó, onigiri làm bằng máy này luôn được bọc sẵn nori, và sau một thời gian nori trở nên ẩm và dính. Lối bao bọc đã được cách tân bằng cách cho phép nori được bọc riêng biệt với cơm. Vào lúc dùng, người ăn có thể mở gói nori và bọc lên onigiri. Việc thành phần thêm vào onigiri được lắp vào thay vì được cuộn bọc, vốn là một hạn chế, nhưng lại làm cho việc thay đổi thành phần được dễ dàng.

Onigiri
Onigiri
Onigiri
Onigiri

Cơm cà ri

Dù không có xuất xứ từ Nhật Bản, nhưng cơm cà ri lại rất phổ biến ở Nhật trong hơn một thế kỉ nay, kể từ thời Minh Trị. Cà ri Nhật không cay và nồng như cà ri Ấn Độ, thường có vị nhẹ và ngọt hơn, nước sốt được nấu với các loại rau như cà rốt, khoai tây, củ hành và thịt rồi được chan lên cơm nóng. Món này có thể ăn kèm với dưa chuột muối hoặc một lát thịt heo chiên xù tùy sở thích người ăn. Cùng với nước sốt, nhiều loại rau và thịt được sử dụng để làm cà ri Nhật Bản. Các loại rau cơ bản là hành tây, cà rốt và khoai tây. Thịt bò, thịt lợn và thịt gà là những lựa chọn thịt phổ biến nhất. Katsu-karē là một món thịt tẩm bột chiên giòn với nước sốt cà ri Nhật Bản.

Cà ri được giới thiệu đến Nhật Bản trong thời đại Minh Trị (1868 – 1912), vào thời điểm tiểu lục địa Ấn Độ nằm dưới sự thống trị của thực dân bởi Đế quốc Anh. Đến những năm 1870, cà ri bắt đầu được phục vụ ở Nhật Bản và trở thành món ăn chính trong chế độ ăn uống của người Nhật. Mãi đến đầu thế kỷ XX, khi cà ri được Hải quân và Quân đội Nhật Bản thông qua, món ăn này bắt đầu trở nên phổ biến với người Nhật. Sau khi được tiếp đón thuận lợi trong Quân đội và Hải quân Nhật Bản, nó trở nên phổ biến trong các nhà ăn ở trường. Vào những năm 2000, cà ri là một bữa ăn thường xuyên hơn sushi hoặc tempura.

Cơm cà ri
Cơm cà ri
Cơm cà ri
Cơm cà ri

Súp miso

Súp miso dường như xuất hiện trong mọi bữa ăn của người Nhật Bản, bất kể là bữa sáng, trưa hay chiều tối. Nước súp gồm nước dùng dashi (được nấu từ cá khô, tảo bẹ khô và cá ngừ bào), bột miso và các nguyên liệu như rong biển xắt nhỏ và đậu phụ. Ngoài ra còn có nhiều biến thể súp miso khác như thêm vào cá, nấm, cua, củ cải, nghêu, khoai tây… tùy sở thích của người ăn và tùy đặc trưng của mùa, của vùng miền. Sự lựa chọn tương miso cho canh tương rất quan trọng vì quyết định rất nhiều đến khí sắc riêng và hương vị của canh. Tương miso có thể được phân thành nhiều loại như màu đỏ (akamiso), màu trắng (shiromiso), hoặc trộn cả hai (awase). Có nhiều biến thể trong các mùi vị này, trong đó có sự khác nhau giữa các khu vực, chẳng hạn như tương miso của Shinshū hoặc miso của tỉnh Sendai.

Nước dùng phổ biến nhất đó là dashi nó hay được dùng cho món súp miso dashi thường được làm bằng cá khô (cá mồi nhỏ phơi khô), tảo bẹ khô (còn gọi là rong biển khô), cá ngừ bào (cá ngừ bào mỏng khô và hun khói, còn được biết đến là cá ngừ vằn), hoặc từ nấm đông cô khô (nấm đông cô phơi khô). Tảo bẹ khô cũng có thể được sử dụng kết hợp với cá ngừ bào hoặc nấm đông cô và nhiều thứ khác để tạo nên dashi. Nước dùng từ tảo bẹ và nấm đông cô được phục vụ như một món súp chay cho người dân Nhật Bản. Theo Nhật Bản nguyên liệu nó luôn được thay đổi theo vùng miền hoặc theo mùa và thời tiết khí hậu. Các thành phần nguyên liệu được chọn để cung cấp sự tương phản của màu sắc, kết cấu, và hương vị súp. Do đó hành và đậu phụ, hai thành phần chính luôn được chọn để làm nổi bật hương vị súp. Thành phần nổi trên chén xúp, chẳng hạn như tảo bẹ khô rong biển và các thành phần chìm, có thể bao gồm nấm, khoai tây, rong biển, hành tây, tôm, cá và củ cải trắng xát nhỏ hoặc thái lát.

Súp miso
Súp miso
Súp miso
Súp miso

Tempura

Tempura là tên gọi dùng để chỉ những món rau củ hay hải sản tẩm bột mì và được rán ngập trong dầu. Thời gian chế biến thường ngắn nhằm giữ hương vị cho món ăn. Tempura phổ biến nhất là tempura tôm. Các món tempura thường được chấm với xì dầu hoặc wasabi, hoặc ăn kèm với cơm nắm, với các loại mì Nhật Bản, hoặc nhấm nháp với bia như một món ăn kèm thú vị. Tempura được người Nhật Bản lẫn du khách quốc tế, từ già đến trẻ yêu thích bởi độ giòn tan thú vị và cách chế biến đơn giản, dễ thực hiện. Đây là một món ăn khá phổ biến trong các bữa ăn của người Nhật, từ bữa ăn dạng cơm hộp cho tới các bữa tiệc cao cấp. Trên thế giới, tempura cùng với sushi là những món ăn Nhật Bản được biết đến nhiều nhất.

Cái làm nên sự khác biệt giữa tempura với các món có tẩm bột rán chẳng hạn như ebifurai chính là bột, dầu và nước chấm và gia vị ăn kèm. Bột để làm tempura là thứ hỗn hợp nhão của bột mì, lòng trứng gà và nước nguội. Dầu để rán là hỗn hợp dầu ăn thông thường với dầu vừng. Nước chấm hoặc gia vị chấm tùy từng sở thích của mỗi người hay tùy mỗi cửa hàng, có thể là xì dầu (ngày nay có loại xì dầu chuyên dành cho tempura được chế sẵn), muối tinh. Cũng có người Nhật và quán ăn ở Nhật dùng hỗn hợp gia vị có pha wasabi để chấm tempura. Lại có nơi mài củ cải tươi ra trộn vào xì dầu để chấm. Thành phần chính trong nguyên liệu làm tempura là các loại hải sản, phổ biến nhất là tôm, mực, cá, một số loại rau củ như bí ngô, cà dái dê, khoai lang, lá tía tô, ớt ngọt, đậu bắp. Tempura được dùng khi uống bia, rượu, ăn với cơm hoặc với mì soba, udon.

Tempura
Tempura
Tempura
Tempura

Sashimi

Sashimi là món thịt hải sản sống của Nhật Bản, được cắt miếng mỏng vô cùng điệu nghệ, dọn ra ăn sống mà không tẩm ướp thêm bất kì gia vị nào vào món hải sản, thực khách có thể chấm cùng với nước tương hoặc wasabi tùy khẩu vị. Chẳng có gì đơn giản và cũng phức tạp hơn món ăn tưởng chừng dễ thực hiện này. Người đầu bếp phải biết lựa chọn loại hải sản tươi ngon nhất để phục vụ thực khách, và phải hiểu rõ từng bộ phận trên cơ thể một con cá, con tôm hay bạch tuộc, chưa kể đầu bếp phải có kĩ năng dùng dao điêu luyện để thái những lát hải sản vừa miệng người ăn. Vì thế muốn thưởng thức sashimi thực sự ngon, bạn phải đến những nhà hàng cao cấp.

Sashimi thường là món đầu tiên trong bữa ăn trang trọng ở Nhật, nhưng cũng có thể làm món chính, ăn cùng với cơm và một chén súp Miso riêng. Nhiều người Nhật cho rằng sashimi, theo truyền thống được xem là món cá hảo hạng của ẩm thực Nhật, phải được ăn trước để tránh các món có mùi nặng làm ảnh hưởng đến khẩu vị. Trong ẩm thực, sashimi được xem là nét văn hoá Nhật đề cao sự tinh tế. Cảm giác tinh khiết có thể biến đổi từ cá hồi (loài cá không phải là truyền thống của Nhật) đến cá mực. Miếng hải sản cắt lát, thành phần chính của món ăn, thường được bọc trong rau củ trang trí. Rau củ trang trí điển hình là củ cải trắng, củ cải Nhật (daikon) cắt sợi, cùng với một lá tía tô.

Sashimi
Sashimi
Sashimi
Sashimi

Ramen

Ramen là một loại mì có nét giống với mì kéo của Trung Quốc, nhưng cầu kì hơn ở nước dùng và có sự khác biệt trong các loại nguyên liệu ăn kèm. Thành phần chính của nước dùng vẫn là dashi, nhưng việc kết hợp nó với các loại xương hầm như xương gà, xương heo, tảo bẹ hay các loại nấm… là công thức riêng của mỗi cửa hàng. Món mì được chan nước dùng nóng ăn kèm với trứng luộc, măng khô, một lát thịt heo và rau tươi như hành lá, hạt bắp, tỏi băm hay rong biển khô tùy vào cách chế biến mỗi nơi. Đây là món ăn đêm nổi tiếng của Nhật Bản, thường được bán tại các quầy ăn ven đường. Ramen có nhiều dạng và độ dài sợi khác nhau. Nó có thể dày, mỏng, hoặc thậm chí chỉ mỏng như sợi ruy băng, cũng như có thể thẳng hoặc nhăn nheo.

Có một loạt các loại món ramen tồn tại ở Nhật Bản, với sự khác biệt về địa lý và nhà cung cấp cụ thể, ngay cả trong các phân loại chia sẻ cùng tên. Ramen có thể được phân loại bởi hai thành phần chính: sợi mỳ và nước dùng. Có một loạt các loại món ramen tồn tại ở Nhật Bản, với sự khác biệt về địa lý và nhà cung cấp cụ thể, ngay cả trong các phân loại chia sẻ cùng tên. Ramen có thể được phân loại bởi hai thành phần chính là sợi mỳ và nước dùng. Kansui là thành phần phân biệt trong mỳ ramen và có nguồn gốc từ vùng Nội Mông, nơi mà một số hồ chứa một lượng lớn các chất khoáng này và có loại nước được cho là hoàn hảo để làm món mỳ này. Làm mỳ với kansui khiến cho mỳ có một màu vàng cũng như một kết cấu vững chắc. Trứng cũng có thể được thay thế cho kansui. Một vài loại mỳ không làm từ trứng hay kansui và chỉ nên được sử dụng cho yakisoba, vì chúng có một cấu trúc yếu hơn và trở nên cực kỳ mềm khi nấu mỳ nước.

Ramen
Ramen
Ramen
Ramen

Sukiyaki

Sukiyaki là món lẩu Nhật Bản nấu trong nước dùng gồm nước tương, đường và rượu ngọt mirin, ăn với thịt bò thái lát mỏng, các loại rau củ và đậu phụ. Khi ăn, người ta đập trứng sống vào một chén riêng, sau đó gắp thịt bò ra từ nồi lẩu, nhúng vào hỗn hợp trứng sống như nước chấm rồi mới cho vào miệng. Món này thường được ăn vào những ngày mùa đông lạnh giá, trong dịp hội họp bạn bè hay chỉ đơn thuần là cùng gia đình quây quần quanh nồi lẩu ấm cúng. Nếu là một tín đồ của ẩm thực Nhật Bản, chắn hẳn bạn sẽ biết đến món sukiyaki, đây là một trong những món lẩu nổi tiếng được vinh danh trong hàng tinh hoa ẩm thực của xứ sở hoa anh đào cùng với Sushi, Tempura, Sashimi… Sukiyaki là một món ăn cao cấp với nguyên liệu thượng hạng, cách nấu và cách thưởng thức độc đáo, là món ngon đặc biệt thường được dùng trong các buổi tiệc liên hoan, chiêu đãi.

Tuy nhiên, món ăn này cũng còn khá mới mẻ với nhiều người, vì vậy hôm nay Toplist sẽ giúp bạn tìm hiểu sukiyaki là gì, các nguyên liệu tạo chính và cách thưởng thức. Những miếng thịt bò thượng hàng được thái thật mỏng, nhúng sơ qua nước lẩu rồi chấm vào chén trứng gà sống đánh nhuyễn, độ nóng của thịt bò làm trứng chín và tạo thành một lớp mỏng bao quanh bên ngoài. Vị mềm ngọt của thịt bò hòa cùng vị béo bùi của trứng rất hấp dẫn, đã ăn một lần thì sẽ không bao giờ quên. Là một món ăn cao cấp nên lẩu sukiyaki được chế biến từ những nguyên liệu thương hạng. Thịt bò là nguyên liệu chính, có thể là bò Úc hoặc bò Kobe, thịt bò ở Nhật bản khá đắt nên món này thường được ăn trong những dịp đặc biệt hoặc sau ngày lãnh lương. Thịt bò sẽ được thái thành những lát to và mỏng để khi nhúng thịt nhanh chín, thấm gia vị đậm đà và đem lại vị mềm ngọt, dễ ăn.

Sukiyaki
Sukiyaki
Sukiyaki
Sukiyaki

Takoyaki

Takoyaki là một trong những món ăn đường phố nổi tiếng nhất Nhật Bản. Thực chất nó là món bánh nhân bạch tuộc được nướng trong khuôn tròn cho đến khi đủ độ chín, ăn kèm với cá bào khô và các loại sốt Nhật, có thể thêm hành lá tùy thích. Takoyaki thường được ăn nóng, lớp vỏ bên ngoài giòn, bên trong là lớp bột bánh mềm với bạch tuộc nhai sần sật rất vui miệng, được giới trẻ Việt Nam yêu thích trong những năm gần đây. Cách ăn ban đầu của takoyaki là cứ bỏ vào miệng nhai chứ không có nước sốt. Nước sốt của món này chỉ bắt đầu được làm sau chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1948. Các cửa hàng khác nhau có thể điều chế nước sốt theo công thức riêng với các hương vị khác nhau.

Takoyaki ban đầu được bán tại Osaka nơi ở của một người bán thức ăn đường phố có tên Endo Tomekichi thường làm món bánh nướng bọc nhân thịt bò chấm nước tương, nhưng sau khi ăn thử món akashiyaki và bị ấn tượng mạnh vào năm 1935 thì ông đã chuyển sang làm nhân bạch tuộc và gọi nó là takoyaki. Món này sau đó đã trở nên nổi tiếng tại vùng Kinki trước khi lan ra toàn Nhật Bản. Các tạp chí bắt đầu giới thiệu về nó trước chiến tranh thế giới thứ hai như một món ăn đặc sản của Osaka làm cho những người nấu món này cũng nhiều hơn. Ban đầu món ăn được bán trong các quầy chế biến thực phẩm yatai tại các dịp lễ hội nhưng sau đó các nhà hàng chuyên phục vụ takoyaki đã mọc lên và đến năm 1955 thì đã có 5000 nhà hàng và quán ăn phục vụ món này riêng ở Osaka. Hiện tại thì takoyaki cũng được bán thành các vỉ/phần làm sẵn tại siêu thị. Cũng như gần đây thì loại bánh này bắt đầu đi ra ngoài Nhật Bản đến các nước khác.

Takoyaki
Takoyaki
Takoyaki
Takoyaki

Mochi

Mochi là một loại bánh giầy nhân ngọt truyền thống của Nhật Bản làm từ bột gạo nếp hay gạo nếp giã nhuyễn không những được dùng để ăn trong cuộc sống hàng ngày mà còn là vật phẩm dâng lên thần linh và có ý nghĩa mang lại may mắn. Bánh Mochi là vật cúng không thể thiếu trong các gia đình Nhật Bản nhân dịp năm mới. Họ bày trí Mochi ở hốc tường Toko-noma trang trọng trong phòng khách hoặc trong nhà bếp. Những chiếc bánh này được gọi là Kagami-mochi, tức bánh Mochi dâng lên thần linh. Ngày Tết, Tết Trung Thu, người Nhật cúng bánh Mochi để cầu nguyện cho sự trường thọ. Vào những ngày truyền thống, người Nhật cột bánh Mochi trên thanh tre dài rồi nướng trong đống lửa. Họ tin rằng khi ăn bánh Mochi nướng tại lễ Dondo-yaki sẽ mang lại sức khỏe cho suốt cả năm. Bánh Mochi cũng có mặt trong lễ dựng nhà mới Choto-shiki của người Nhật.

Người ta chọn loại gạo nếp ngon, đồ kỹ (có thể đồ hai lượt), rồi giã trong cối tới khi có được một khối bột nếp chín dẻo quánh. Thường chỉ những nam thanh niên mới làm điều này, vì nếu giã không nhuyễn khi ăn hạt gạo sẽ mất ngon, dễ bị hỏng bánh. Đối với loại mochi có nhân: Pha một giọt màu thực phẩm với 1 chén nước sao cho nước có màu sắc như ý (hoặc không cần màu thực phẩm). Trộn đều bột nếp, đường và nước màu, lưu ý bột nếp làm vỏ bánh sau khi hấp sẽ rất dẻo và dính nên cần cho từ từ từng chút nước vào cho đến khi hỗn hợp bột thành 1 khối dẻo hơi khô. Lấy màng bọc thực phẩm bọc bột đã nhào. Sau đó cho vào lò vi sóng quay 3 phút chế độ high. Sau đó lấy bánh ra và trộn lại lần nữa bằng muỗng gỗ trong 20 giây, tiếp đến lấy màng bọc lại, cho vào lò vi sóng một lần nữa rồi quay trong 1 phút thì lấy ra, nhanh tay khuấy bột theo đường tròn khoảng 30 giây nữa để làm bột dai.

Mochi
Mochi
Mochi
Mochi

Trên đây là những món ăn phổ biến nhất Nhật Bản, không chỉ được người Nhật thưởng thức hằng ngày mà còn được nhiều du khách quốc tế biết đến. Rất nhiều món trên danh sách đã được du nhập vào Việt Nam, vậy bạn còn chờ gì mà không thưởng thức ngay?

 

món ăn nhật bản nhật bản phổ biến nhất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button